NHÀ ĐANG TRẢ GÓP, KHI LY HÔN CHIA THẾ NÀO?
Câu hỏi của người dân: Vợ chồng tôi kết hôn năm 2018 và mua một căn hộ chung cư theo hình thức trả góp từ ngân hàng vào năm 2022. Hiện nay chúng tôi đã thanh toán được khoảng 60% giá trị căn hộ, phần còn lại vẫn đang trả góp hằng tháng. Do mâu thuẫn kéo dài nên cả hai đang làm thủ tục ly hôn nhưng không thống nhất được việc chia căn nhà cũng như nghĩa vụ trả khoản vay còn lại. Xin hỏi, căn nhà đang trả góp có được xem là tài sản chung của vợ chồng không? Khi ly hôn thì căn nhà sẽ được chia như thế nào? Ai là người tiếp tục trả khoản vay với ngân hàng?
%20(1)(1).png)
Luật sư tư vấn:
Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, việc xác định quyền sở hữu đối với căn nhà không phụ thuộc hoàn toàn vào việc đã thanh toán đủ tiền hay chưa, mà phải xem xét thời điểm xác lập tài sản, nguồn tiền dùng để mua nhà và thỏa thuận của các bên. Đồng thời, việc phân chia căn nhà đang trả góp luôn gắn liền với việc giải quyết nghĩa vụ trả nợ còn tồn tại đối với ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng.
NHÀ ĐANG TRẢ GÓP CÓ PHẢI LÀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG?
Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành, tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân; thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và các nguồn thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân.
Đối với quyền sử dụng đất hoặc nhà ở được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì về nguyên tắc cũng được xác định là tài sản chung, trừ các trường hợp: được thừa kế riêng; được tặng cho riêng; được hình thành hoàn toàn từ tài sản riêng của một bên; hoặc vợ chồng có thỏa thuận xác lập là tài sản riêng theo quy định của pháp luật.
Do đó, nếu căn nhà được mua trong thời kỳ hôn nhân và khoản tiền trả trước cũng như các khoản trả góp hàng tháng đều được thanh toán từ thu nhập chung của vợ chồng thì mặc dù khoản vay chưa được thanh toán hết, căn nhà vẫn được xác định là tài sản chung của vợ chồng.
Ngược lại, nếu một bên chứng minh được toàn bộ số tiền dùng để mua nhà có nguồn gốc từ tài sản riêng và không có thỏa thuận nhập vào tài sản chung thì căn nhà có thể được xác định là tài sản riêng.
Đặc biệt, khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó được coi là tài sản chung của vợ chồng.
KHI LY HÔN, TÒA ÁN CHIA NHÀ ĐANG TRẢ GÓP THEO NGUYÊN TẮC NÀO?
Nếu xác định căn nhà là tài sản chung thì việc phân chia sẽ được thực hiện theo Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nhiều người vẫn cho rằng ly hôn thì tài sản sẽ chia đúng 50% cho mỗi người. Tuy nhiên, pháp luật không quy định cứng nhắc như vậy, nguyên tắc là chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau:
- Hoàn cảnh của mỗi bên sau khi ly hôn;
- Công sức đóng góp của mỗi người trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung;
- Việc bảo vệ lợi ích chính đáng trong hoạt động nghề nghiệp, sản xuất, kinh doanh;
- Lỗi của mỗi bên trong việc vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Đặc biệt theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình, lao động nội trợ được coi là lao động có thu nhập. Vì vậy, việc một bên ở nhà chăm sóc con, quán xuyến gia đình không đồng nghĩa với việc người đó không có công sức đóng góp vào việc hình thành căn nhà.
KHOẢN VAY NGÂN HÀNG ĐƯỢC GIẢI QUYẾT NHƯ THẾ NÀO?
Việc chia căn nhà không đồng nghĩa với việc khoản vay còn lại tự động chấm dứt.
Theo Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nghĩa vụ phát sinh nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc phục vụ việc tạo lập tài sản chung được xác định là nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng.
Do đó, nếu khoản vay ngân hàng được sử dụng để mua căn nhà là tài sản chung thì về nguyên tắc, đây cũng là khoản nợ chung của vợ chồng.
Khi giải quyết ly hôn, Tòa án thường xem xét một trong các phương án sau:
- Một bên nhận quyền sở hữu căn nhà và tiếp tục thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng; đồng thời thanh toán cho bên còn lại phần giá trị tài sản mà họ được hưởng.
- Hai bên thống nhất bán căn nhà, dùng số tiền thu được để tất toán khoản vay ngân hàng trước, phần giá trị còn lại sẽ được chia theo tỷ lệ mà Tòa án hoặc các bên xác định.
- Trong trường hợp cả hai tiếp tục là đồng sở hữu căn nhà sau ly hôn, các bên có thể thỏa thuận cùng tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi khoản vay được thanh toán hết.
Trên thực tế, nếu khoản vay có tài sản thế chấp là chính căn nhà đang tranh chấp thì việc chuyển giao nghĩa vụ trả nợ hoặc thay đổi người đứng tên khoản vay còn phải được ngân hàng chấp thuận theo hợp đồng tín dụng đã ký.
ĐỐI VỚI TÌNH HUỐNG NÊU TRÊN
Căn hộ được mua sau khi hai vợ chồng kết hôn và đang được thanh toán theo hình thức trả góp. Nếu khoản tiền đặt trước cũng như các khoản thanh toán hằng tháng đều được chi trả từ thu nhập chung của vợ chồng thì khả năng căn hộ sẽ được xác định là tài sản chung theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Khi ly hôn, nếu hai bên không tự thỏa thuận được việc phân chia căn hộ thì Tòa án sẽ giải quyết theo nguyên tắc quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình. Việc phân chia không chỉ dựa trên tỷ lệ đóng góp về tài chính mà còn xem xét công sức đóng góp trong việc chăm sóc gia đình, điều kiện của mỗi bên sau ly hôn và các yếu tố khác theo luật định.
Đối với khoản vay ngân hàng còn lại, nếu đây là khoản vay phục vụ việc mua căn hộ là tài sản chung thì về nguyên tắc vẫn được xác định là nghĩa vụ chung của vợ chồng. Bên nhận căn hộ thường sẽ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ và thanh toán cho bên còn lại phần giá trị tài sản mà họ được hưởng hoặc các bên có thể bán căn hộ để thanh toán khoản vay trước khi chia giá trị còn lại.
Liên hệ Luật sư tư vấn
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về việc xác định và phân chia căn nhà đang trả góp khi ly hôn theo quy định của pháp luật hiện hành. Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0965 921 058
Email: luattancang@gmail.com
Website: luattancang.com