Câu hỏi của người dân: Vợ chồng tôi kết hôn vào tháng 01/2024, nhưng vì vấn đề sức khỏe của tôi mà vẫn chưa thể có con chung. Năm 2025, chúng tôi đã thỏa thuận được về việc nhờ em gái của tôi mang thai hộ, em rể biết và đồng ý về việc này. Hiện nay, em tôi đã mang thai được 35 tuần và dự kiến sinh vào cuối tháng 6/2026. Nhưng thời gian gần đây chồng của em tôi dần bỏ bê gia đình, thường xuyên đi sớm về muộn dẫn đến những mâu thuẫn không đáng có trong gia đình, thậm chí nhiều lần còn đánh chửi em tôi. Em rể đã đề nghị ly hôn với em tôi và giành quyền nuôi con gái lớn của hai vợ chồng và muốn sở hữu căn nhà họ đang ở nhưng em tôi không đồng ý. Em rể dọa sẽ nộp đơn để yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với nó, em tôi nên làm gì để bảo vệ chính mình và cháu gái của tôi?
Luật sư tư vấn:
Trong đời sống hôn nhân, khi mâu thuẫn vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, ly hôn là giải pháp pháp lý tất yếu để chấm dứt quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên, không phải lúc nào vợ chồng cũng đạt được sự thuận tình về việc ly hôn. Pháp luật Việt Nam cũng đã dự liệu được trường hợp này nên đã có quy định cho phép vợ chồng có quyền đơn phương yêu cầu ly hôn khi hôn nhân không được trọn vẹn. Nhưng ly hôn là sự kiện pháp lý có thể làm phát sinh hàng loạt vấn đề khác như tranh chấp tài sản, vấn đề nuôi dưỡng, chăm sóc con cái sau khi ly hôn...Vậy nên, để bảo vệ người vợ, đối tượng yếu thế, dễ gặp phải những tổn thương trong quan hệ hôn nhân, trước những tranh chấp này, pháp luật Việt Nam đã thiết những giới hạn nhất định đối với quyền yêu cầu ly hôn của người chồng.
Ly hôn là gì?
Ly hôn là quyền con người và được ghi nhận như một nguyên tắc hiến định. Theo đó, “nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn” theo khoản 1 Điều 36 Hiến pháp năm 2013. Theo cách hiểu thông thường có thể hiểu ly hôn là việc hai vợ chồng “bỏ nhau” một cách hợp pháp và thông qua cơ quan tư pháp để giải quyết ly hôn chấm dứt quan hệ vợ chồng. Ở góc độ khoa học pháp lý, khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (sau đây viết tắt là Luật HNGĐ năm 2014) định nghĩa “ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”. Chỉ khi có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thì quan hệ hôn nhân mới thật sự chấm dứt.
Nếu khi vợ chồng đã thỏa thuận với nhau về việc ly hôn và các vấn đề khác như chăm sóc, cấp dưỡng cho con chung, chia tài sản chung của vợ chồng,...được quy định tại Điều 55 Luật HNGĐ năm 2014 thì có thể nộp đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.
Quyền đơn phương yêu cầu ly hôn
Tuy nhiên, đôi khi nguyên nhân dẫn đến sự trầm trọng của cuộc sống hôn nhân chỉ xuất phát từ một bên vợ hoặc chồng. Họ có những hành vi bạo lực gia đình, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của vợ/chồng hoặc chung sống như vợ chồng với người khác, tức là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng khiến cho cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục. Nhưng vợ chồng không thể thỏa thuận được các vấn đề tranh chấp liên quan cũng như không thống nhất được về việc nộp đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Và cả vợ và chồng đều có quyền yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật HNGĐ năm 2014. Trong trường hợp một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ thì cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Nên khi này, vợ hoặc chồng, và thường là bên bị vi phạm, có thể đơn phương yêu cầu ly hôn và Tòa án sẽ có căn cứ để giải quyết ly hôn khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014.
Trường hợp nào người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn?
Nhưng trong trường hợp trên, người vợ đang mang thai, đây là một trường hợp đặc thù dù không phải là con của người chồng nhưng pháp luật cũng đã đặt ra giới hạn về quyền đơn phương yêu cầu ly hôn của người chồng. Cụ thể tại khoản 3 Điều 51 Luật HNGĐ năm 2014 quy định: “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.” Pháp luật đặt ra giới hạn này nhằm bảo vệ nhóm chủ thể yếu thế bao gồm cả người phụ nữ và người con. Bởi trong giai đoạn mang thai, người vợ rất cần sự quan tâm chăm sóc của người chồng, cần sự hỗ trợ cả về vật chất và tinh thần. Sức khỏe tinh thần của người vợ không ổn định còn có thể gây ảnh hưởng đến thai nhi và để lại nhiều hệ quả về sau đối với đứa trẻ khi được sinh ra. Chính vì thế, sự đồng hành của người chồng, người cha trong giai đoạn này là vô cùng quan trọng.
Và những giới hạn này được ghi nhận cụ thể hơn tại Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Trong đó bao gồm cả trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì chồng của người mang thai hộ không được yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai. Bởi xét về khía cạnh pháp lý, dù người vợ không phải đang mang thai con ruột của mình nhưng thực tế, họ vẫn đang trải qua thai kỳ như những người phụ nữ khác. Việc mang thai có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của họ. Và điều kiện để họ được nhận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo pháp luật Việt Nam cũng bao gồm sự đồng ý của người chồng. Điều này đã gián tiếp tạo nên sự ràng buộc về nghĩa vụ của người chồng trong việc chăm sóc vợ và thai nhi trong suốt quá trình mang thai hộ. Người chồng không thể lấy lý do mang thai hộ con của người khác để từ chối hiện thực khách quan là vợ của họ đang mang thai, cần được chăm sóc và quan tâm.
Người vợ cần làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình?
Như trong trường hợp trên, người vợ đang mang thai hộ cho chị gái của mình và đang ở tuần thứ 35 của thai kỳ, giai đoạn rất quan trọng, cần đặc biệt lưu tâm chăm sóc. Nhưng người chồng đã có hành vi đánh và chửi vợ của mình, đây có thể được xem là hành vi bạo lực gia đình, xâm phạm đến sức khỏe và xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người vợ khiến cho cuộc sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng và yêu cầu ly hôn với vợ. Hành vi này là vi phạm khoản 3 Điều 51 Luật HNGĐ năm 2014 vì quy định này đã trực tiếp loại bỏ quyền yêu cầu ly hôn của người chồng trong giai đoạn người vợ đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi mà không phân biệt có thai, sinh con với ai. Chính vì thế, trong thời gian người vợ đang mang thai hộ, dù đó là được xác định là con của vợ chồng chị gái theo pháp luật hôn nhân và gia đình nhưng người chồng vẫn không có quyền yêu cầu ly hôn.
Thay vào đó, nếu chứng minh được hành vi bạo lực gia đình của chồng và mong muốn được giải quyết cho chấm dứt quan hệ hôn nhân thì người vợ chính là chủ thể có thể nộp đơn yêu cầu ly hôn. Thời gian mang thai, sinh con và nuôi con không tạo ra cản trở pháp lý đối với quyền này của người vợ, thậm chí còn là cơ sở để họ tự bảo vệ chính mình trước những tác nhân có thể ảnh hưởng đến quá trình mang thai và sức khỏe của thai nhi. Vậy nên người vợ vẫn có quyền yêu cầu ly hôn và nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, đồng thời là giải quyết các tranh chấp liên quan như quyền nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn theo thẩm quyền tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về những trường hợp người chồng bị giới hạn quyền đơn phương yêu cầu ly hôn. Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0965 921 058
Email: luattancang@gmail.com
Website: luattancang.com