VỢ HOẶC CHỒNG NGOẠI TÌNH CÓ MẤT QUYỀN NUÔI CON KHÔNG?

https://www.luattancang.com

VỢ HOẶC CHỒNG NGOẠI TÌNH CÓ MẤT QUYỀN NUÔI CON KHÔNG?

VỢ HOẶC CHỒNG NGOẠI TÌNH CÓ MẤT QUYỀN NUÔI CON KHÔNG?

Một trong những quan điểm sai lầm phổ biến trong các vụ án ly hôn là người dân cho rằng chỉ cần chứng minh được một bên ngoại tình thì bên đó đương nhiên sẽ mất quyền nuôi con. Tuy nhiên, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam không tiếp cận vấn đề theo hướng “xử phạt người có lỗi” mà đặt quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em làm trung tâm của mọi quyết định.

Câu hỏi của người dân: Tôi và chồng kết hôn năm 2016, có hai con chung, bé lớn 7 tuổi, bé nhỏ 3 tuổi. Tôi tình cờ phát hiện chồng có quan hệ tình cảm với đồng nghiệp đến nay khoảng 8 tháng. Tôi có ảnh thân mật, hình ảnh tin nhắn chồng tôi với người phụ nữ kia. Hiện   nay tôi muốn ly hôn. Vậy tôi có được quyền trực tiếp nuôi con không? Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn như thế nào?    

Luật sư tư vấn:
Một trong những quan điểm sai lầm phổ biến trong các vụ án ly hôn là người dân cho rằng chỉ cần chứng minh được một bên ngoại tình thì bên đó đương nhiên sẽ mất quyền nuôi con. Tuy nhiên, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam không tiếp cận vấn đề theo hướng “xử phạt người có lỗi” mà đặt quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em làm trung tâm của mọi quyết định.
VỀ NGUYÊN TẮC: QUYỀN LỢI CỦA CON LÀ CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH, KHÔNG PHẢI “LỖI’ TRONG HÔN NHÂN    
Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (Luật HNGĐ 2014): Sau khi ly hôn, vợ chồng có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con; nếu không thỏa thuận được, Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.     
Quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng con là hai phạm trù pháp lý độc lập. Vi phạm nghĩa vụ chung thủy là căn cứ để xem xét yếu tố lỗi khi phân chia tài sản chung, nhưng không đương nhiên đồng nghĩa với việc người đó không đủ tư cách nuôi dạy con. Tòa án chỉ coi hành vi ngoại tình là yếu tố bất lợi khi bên còn lại chứng minh được hậu quả cụ thể của hành vi đó đến việc chăm sóc, giáo dục hoặc môi trường sống của con.
03 MỐC TUỔI QUYẾT ĐỊNH CÁCH TÒA ÁN XÉT QUYỀN NUÔI CON
Trường hợp 1: Con dưới 36 tháng tuổi
Theo khoản 3 Điều 81 Luật HNGĐ 2014 quy định:  Con dưới 36 tháng tuổi được ưu tiên giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con, hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Trường hợp 2: Con từ 3 đến dưới 7 tuổi
Ở giai đoạn này, quyền nuôi con giữa cha và mẹ là ngang nhau về nguyên tắc. Tòa án sẽ giao con cho bên có điều kiện tốt hơn để đảm bảo quyền lợi toàn diện của con, dựa trên các tiêu chí được hướng dẫn cụ thể tại Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP:
- Điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục (thu nhập, chỗ ở, thời gian dành cho con);
- Mức độ gắn bó tình cảm giữa con với từng bên cha, mẹ;
- Tính ổn định của môi trường sống (trường học, bạn bè, nơi ở quen thuộc);
- Sự quan tâm, chăm lo thực tế của mỗi bên trong quá trình chung sống trước đó.
Trường hợp 3: Con từ đủ 7 tuổi trở lên
Ngoài các tiêu chí trên, luật quy định thêm một yêu cầu bắt buộc: Tòa án phải xem xét nguyện vọng của con, và nguyện vọng này được ghi nhận bằng văn bản. Đây là điểm khác biệt lớn so với nhóm tuổi 3-7, vì ý kiến của chính đứa trẻ trở thành một căn cứ pháp lý có trọng số trong quyết định cuối cùng.

KHI NÀO NGOẠI TÌNH THỰC SỰ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYỀN NUÔI CON?
Đây là phần nhiều người nhầm lẫn nhất. Bằng chứng ngoại tình như tin nhắn, hình ảnh, nhân chứng tự thân nó không phải là căn cứ pháp lý độc lập để quyết định ai được nuôi con. Nó chỉ có giá trị khi được chuyển hóa thành chứng cứ về hậu quả thực tế đối với con, ví dụ:
- Sao nhãng, bỏ mặc việc đưa đón, chăm sóc con vì dành thời gian cho mối quan hệ ngoài hôn nhân;
- Đưa con vào môi trường sống không an toàn, không phù hợp (như cho con tiếp xúc, chung sống cùng người thứ ba trong hoàn cảnh bất ổn);
- Sử dụng tài sản, thu nhập chung cho mối quan hệ ngoài hôn nhân dẫn đến thiếu hụt điều kiện tài chính nuôi con;
- Gây tổn thương tâm lý, khiến con chứng kiến xung đột hoặc sa sút học tập, biểu hiện lo âu.
Ngược lại, nếu người ngoại tình vẫn duy trì tốt việc chăm sóc, đưa đón, quan tâm con như bình thường, thì riêng bằng chứng ngoại tình không đủ căn cứ để Tòa án loại người đó khỏi quyền nuôi con. Nói cách khác: Tòa án không xét xử hành vi ngoại tình, mà xét xử hệ quả của hành vi đó đối với quyền lợi của con.
Về mặt thu thập chứng cứ, bên muốn sử dụng yếu tố ngoại tình làm lợi thế cần đi xa hơn việc chỉ chứng minh “có ngoại tình” - cần có thêm tài liệu, nhân chứng (ví dụ xác nhận của giáo viên, người thân, hồ sơ học tập, sao kê tài chính) thể hiện rõ mối liên hệ nhân quả với việc chăm sóc con.
VỀ NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG NUÔI CON
Nghĩa vụ cấp dưỡng không phụ thuộc vào việc ai ngoại tình hay ai có lỗi làm tan vỡ hôn nhân. Theo Điều 82 Luật HNGĐ 2014, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con - đây là nghĩa vụ đương nhiên phát sinh từ quan hệ cha/mẹ - con và tồn tại độc lập với nguyên nhân ly hôn.
Mức và phương thức cấp dưỡng căn cứ Điều 116, 117 Luật HNGĐ 2014:
- Mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận dựa trên thu nhập, khả năng thực tế của người cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của con; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án quyết định. Mức này có thể được điều chỉnh khi có lý do chính đáng như thu nhập thay đổi hoặc nhu cầu của con tăng theo độ tuổi.
- Phương thức cấp dưỡng có thể theo định kỳ (tháng/quý/năm) hoặc một lần, tùy thỏa thuận; có thể tạm ngừng nếu người cấp dưỡng lâm vào khó khăn kinh tế thực sự không có khả năng thực hiện.
- Nghĩa vụ này kéo dài đến khi con đủ 18 tuổi, hoặc lâu hơn nếu con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động, tài sản để tự nuôi mình.
Song song với nghĩa vụ cấp dưỡng, người không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở theo Điều 82 Luật HNGĐ 2014. Quyền này chỉ bị hạn chế trong các trường hợp nghiêm trọng hơn nhiều so với việc ngoại tình đơn thuần như bị kết án về hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của con, hoặc có lối sống đồi trụy, phá tán tài sản của con (Điều 85 Luật HNGĐ 2014).

ĐỐI VỚI TÌNH HUỐNG NÊU TRÊN:
Đối với người con 07 tuổi, Tòa án sẽ đánh giá toàn diện điều kiện nuôi dưỡng của cả cha và mẹ, đồng thời bắt buộc phải ghi nhận nguyện vọng của cháu trước khi đưa ra quyết định. Trong nhiều trường hợp, ý kiến của trẻ là một căn cứ có giá trị đáng kể nếu phù hợp với lợi ích tốt nhất của trẻ.
Đối với người con 03 tuổi, cần xác định chính xác đã đủ 36 tháng tuổi hay chưa. Nếu chưa đủ 36 tháng thì người mẹ được ưu tiên trực tiếp nuôi, trừ trường hợp không đủ điều kiện hoặc các bên có thỏa thuận khác. Nếu đã đủ 36 tháng thì việc xác định quyền nuôi con sẽ được xem xét trên cơ sở các tiêu chí chung mà pháp luật quy định.
Đối với chứng cứ ngoại tình, nếu chỉ dừng lại ở tin nhắn, hình ảnh hoặc lời khai chứng minh có quan hệ ngoài hôn nhân thì giá trị chứng minh trong tranh chấp quyền nuôi con còn hạn chế. Ngược lại, nếu chứng minh được hành vi này dẫn đến việc người chồng bỏ bê con cái, ảnh hưởng đến điều kiện kinh tế gia đình hoặc gây tổn hại đến sự phát triển của trẻ thì đây sẽ là yếu tố bất lợi đáng kể khi Tòa án đánh giá quyền trực tiếp nuôi con.
Dù kết quả giao con cho bên nào, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng và vẫn được bảo đảm quyền thăm nom theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, trừ trường hợp thuộc các căn cứ hạn chế quyền theo luật định.
Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng sau ly hôn theo quy định pháp luật hiện hành . Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0965 921 058
Email: luattancang@gmail.com
Website: luattancang.com

 

 

 

 

Đăng ký tư vấn