QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH HAY HÀNH VI HÀNH CHÍNH VI PHẠM, “THỜI GIAN VÀNG” ĐỂ KHIẾU NẠI

https://www.luattancang.com

QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH HAY HÀNH VI HÀNH CHÍNH VI PHẠM, “THỜI GIAN VÀNG” ĐỂ KHIẾU NẠI

QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH HAY HÀNH VI HÀNH CHÍNH VI PHẠM, “THỜI GIAN VÀNG” ĐỂ KHIẾU NẠI

Về nguyên tắc, thời hiệu khiếu nại đối với quyết định hành chính và hành vi hành chính là như nhau về thời gian nhưng sẽ có sự khác nhau cơ bản về thời điểm bắt đầu tính thời hiệu.

 Câu hỏi của người dân: Ngày 10/01/2026, tôi đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 85 từ một người quen và đã thực hiện đăng ký cấp GCNQSDĐ tại cơ quan có thẩm quyền cùng ngày và lịch hẹn cấp giấy vào ngày 25/01/2026. Đến hạn như đã hẹn trong xác nhận đăng ký, tôi vẫn không nhận được thông báo về việc được cấp GCNQSDĐ Tuy nhiên, ngày 15/01/2026 tôi nhận được quyết định phân công công tác nên phải đi làm ăn xa ở thành phố khác kể từ ngày 30/01/2026 đến ngày 30/4/2026. Trong thời gian đó, nhưng cha mẹ ở nhà lớn tuổi nên không thể quán xuyến việc giấy tờ, không thể thay tôi khiếu nại. Nay khi đã hoàn thành chuyến công tác và trở về nhà, tôi muốn khiếu nại về hành vi này nhưng theo tìm hiểu tôi được biết thời hiệu khiếu nại chỉ là 90 ngày. Vậy trong trường hợp này tôi còn được khiếu nại hay không?

 

Giải quyết vấn đề pháp lý: 

Việc phân biệt được quyết định hành chính và hành vi hành chính là vấn đề rất quan trọng nhằm đảm bảo được quyền khiếu nại của người dân không bị ảnh hưởng. Vì về nguyên tắc, thời hiệu khiếu nại đối với hai đối tượng này là như nhau về thời gian nhưng sẽ có sự khác nhau cơ bản về thời điểm bắt đầu tính thời hiệu. Chính vì thế để người dân không bỏ lỡ thời gian có thể khiếu nại những quyết định và hành vi hành chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì cần phải phân định rõ giữa quyết định hành chính và hành vi hành chính.

Quyết định hành chính là gì? 

Theo khái niệm tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì quyết định hành chính “là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”. Theo đó, một văn bản được coi là quyết định hành chính phải hội tụ đủ các đặc điểm sau:

Về hình thức: Phải là văn bản (bằng giấy hoặc văn bản điện tử có ký số). Các chỉ đạo bằng lời nói, tin nhắn không phải là quyết định hành chính.

Về chủ thể ban hành: Do cơ quan hành chính (Ủy ban nhân dân các cấp, Bộ, Sở, Phòng...) hoặc người có thẩm quyền (Chủ tịch UBND, Bộ trưởng, Giám đốc Sở,...) ban hành.

Về nội dung: Giải quyết một vấn đề cụ thể (xử phạt, thu hồi đất, kỷ luật, cấp giấy phép...).

Về đối tượng và hiệu lực: Chỉ áp dụng một lần cho một hoặc một số đối tượng đích danh (ví dụ: Quyết định xử phạt đối với hộ kinh doanh A, Quyết định thu hồi đất của ông B). 

Hành vi hành chính là gì?

Theo khái niệm tại khoản 3 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì hành vi hành chính là “hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật”. Khác với quyết định hành chính (thể hiện bằng văn bản) hành vi hành chính được nhận diện qua hai trạng thái thực tế sau: 

Hành vi hành động (thực hiện nhiệm vụ, công vụ) là việc cơ quan hoặc người có thẩm quyền chủ động làm một việc gì đó trong quá trình thực thi công vụ 

Hành vi không hành động (không thực hiện nhiệm vụ, công vụ) hay còn gọi là sự im lặng, né tránh, từ chối hoặc chậm trễ. Đây là trường hợp pháp luật quy định cơ quan/người có thẩm quyền phải làm một việc cụ thể cho người dân, nhưng họ lại không làm mà không có lý do chính đáng bằng văn bản. 

Thời hiệu khiếu nại 

Theo khiếu nại theo định nghĩa tại khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 là “việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước”. Nhưng cần hiểu rõ không phải bất kỳ quyết định hành chính hay hành vi hành chính nào cũng có thể bị khiếu nại. Theo khoản 1 Điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011, chỉ khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người dân mới khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính. Và thời hiệu khiếu nại là một vấn đề cần lưu tâm để tránh những trường hợp làm lỡ mất thời gian vàng vì nếu vượt quá thời hạn được quy định tại Điều 9 Luật Khiếu nại năm 2011 thì người dân không thể thực hiện quyền khiếu nại của mình: 

Đối với quyết định hành chính: thời hạn khiếu nại là 90 ngày nhưng vì bản chất là một văn bản, thời điểm phát sinh thời hạn đối với quyết định hành chính có thể được tính từ ngày nhận được văn bản này hoặc từ ngày biết được văn bản. 

Đối với hành chính: thời hạn khiếu nại là 90 ngày và chỉ có thể xác định thời điểm phát sinh thời hạn từ lúc biết được hành vi này. 

Sau 90 ngày, người dân còn có thể khiếu nại không? 

Trong trường hợp thực tiễn nêu trên, đối tượng khiếu nại là hành vi không thực hiện thủ tục cấp GCNQSDĐ và người dân biết được hành vi này là vào ngày 25/1/2026 như đã hẹn trong giấy xác nhận đăng ký cấp GCNQSDĐ. Theo quy định pháp luật, thời hạn khiếu nại là 90 ngày tính từ ngày này tức là kéo dài đến hết ngày 24/4/2026. Tuy nhiên, thời hạn này có thể được tạm thời “đóng băng” theo Điều 9 Luật Khiếu nại năm 2011 trong một số trường hợp cụ thể. Trong trường hợp này, người dân đã có lịch đi công tác xa ở một thành phố khác kể từ ngày 30/01/2026 đến ngày 30/4/2026. Đây được xác định là khoảng thời gian trở ngại, khiến người dân không thể trực tiếp thực hiện quyền khiếu nại của mình. Chính vì thế, pháp luật đã loại trừ khoảng thời gian này, cho phép không tính vào thời hạn khiếu nại. Thời hạn khởi hiệu trong trường hợp này đã bắt đầu từ ngày 25/01/2026 nhưng bị “đóng băng” kể từ ngày 30/01/2026 đến ngày 30/4/2026. Khi chuyến công tác kết thúc, sự trở ngại không còn tồn tại trên thực tế thì thời hạn này sẽ được tiếp tục. Vậy nên, thời hạn khiếu nại trong trường hợp này vẫn còn dù đã hơn 90 ngày kể từ ngày người dân biết được hành vi hành chính vi phạm, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 

Liên hệ Luật sư tư vấn: 

Trên đây là phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về thời hạn khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính. Và để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 

Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng

Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh

Điện thoại: 0965 921 058

Email: luattancang@gmail.com 

Website: luattancang.com


 

.



 

 

Đăng ký tư vấn