Câu hỏi của người dân: Trên đường đi làm về, bạn tôi là anh H (22 tuổi) xảy ra va chạm giao thông nhỏ với một người đi đường. Hai bên lời qua tiếng lại. Do đã uống rượu bia trước đó nên anh H không kiềm chế được nóng giận, liền dùng chiếc khóa chữ U trên xe máy gạt mạnh vào vùng đầu đối phương khiến người này bị rách da trán, chảy máu.Ngay sau đó, anh H đã chủ động xin lỗi, đưa nạn nhân đi khâu vết thương và bồi thường 2 triệu đồng chi phí điều trị. Kết quả giám định cho thấy tỷ lệ tổn thương cơ thể chỉ là 1%. Tưởng rằng sự việc đã được giải quyết ổn thỏa, nhưng sau đó anh H lại nhận được quyết định khởi tố bị can của Cơ quan Cảnh sát điều tra. Liệu việc khởi tố trong trường hợp thương tích chỉ 1% như vậy có đúng quy định pháp luật hay không?

Luật sư tư vấn:
Đây cũng là thắc mắc của rất nhiều người bởi trong nhận thức phổ biến, nhiều người cho rằng chỉ khi gây thương tích nặng hoặc tỷ lệ thương tật cao mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, thực tế pháp luật hình sự Việt Nam không quy định đơn giản như vậy.
Bài viết dưới đây Công ty Luật Tân Cảng sẽ giúp bạn cập nhật đầy đủ các quy định mới nhất, hiểu đúng quy trình pháp lý.
Đừng để con số 1% đánh lừa bạn
Trong đời sống hằng ngày, những vụ xô xát xuất phát từ va chạm giao thông, tranh chấp sinh hoạt, mâu thuẫn cá nhân diễn ra khá phổ biến.
Không ít người có suy nghĩ: Chỉ đánh vài cái thì không sao; Vết thương nhỏ thì cùng lắm bị phạt hành chính; Đã bồi thường và xin lỗi thì sẽ không bị xử lý hình sự.
Đây là những quan niệm rất dễ dẫn đến hậu quả pháp lý nghiêm trọng. Trên thực tế, pháp luật hình sự không chỉ xem xét tỷ lệ thương tật của nạn nhân mà còn đánh giá toàn diện các yếu tố như: Tính chất hành vi; Công cụ được sử dụng; Động cơ phạm tội; Mức độ nguy hiểm cho xã hội; Đối tượng bị xâm hại.
Vì vậy, một người gây thương tích chỉ 1% vẫn hoàn toàn có thể bị khởi tố hình sự nếu thuộc các trường hợp luật định.
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác được quy định như thế nào?
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đây là hành vi mà người phạm tội cố ý tác động lên cơ thể người khác bằng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác làm phát sinh thương tích hoặc tổn hại sức khỏe.
Theo đó, tội phạm này sẽ bị xử lý theo 05 khung hình phạt sau:
“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác[42]
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp[43] giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”
Vì sao anh H vẫn có thể bị khởi tố dù thương tật chỉ 1%?
Đối chiếu với tình huống nêu trên, quyết định khởi tố của cơ quan điều tra là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
Thứ nhất, anh H đã sử dụng khóa chữ U để tấn công người khác. Trong thực tiễn xét xử, khóa chữ U thường được xem là vật có khả năng gây sát thương cao khi được sử dụng để tấn công vào các vị trí trọng yếu trên cơ thể như đầu, mặt, cổ. Do đó, cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở xem xét đây là "hung khí nguy hiểm".
Thứ hai, hành vi xảy ra sau mâu thuẫn giao thông nhỏ nhưng người thực hiện lại sử dụng bạo lực ngay lập tức để giải quyết xung đột. Trong nhiều trường hợp, hành vi này còn có thể bị đánh giá mang tính chất côn đồ.
Chỉ cần thuộc một trong hai tình tiết: Dùng hung khí nguy hiểm hoặc Có tính chất côn đồ thì người gây thương tích 1% vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Đã xin lỗi và bồi thường thì có được miễn truy cứu hình sự không?
Câu trả lời là không hẳn. Việc xin lỗi, khắc phục hậu quả, đưa nạn nhân đi cấp cứu và tự nguyện bồi thường là những tình tiết có lợi cho người phạm tội. Những hành động này có thể được Tòa án xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 Bộ luật Hình sự.
“Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
[...]”
Tuy nhiên, các tình tiết giảm nhẹ không làm mất đi tính chất phạm tội nếu hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Nói cách khác: Bồi thường không đồng nghĩa với miễn tội; Xin lỗi không đồng nghĩa với đình chỉ vụ án; Thương lượng dân sự không phải lúc nào cũng làm chấm dứt trách nhiệm hình sự.
Người gây thương tích còn phải bồi thường những gì?
Ngoài trách nhiệm hình sự, người gây thương tích còn phải bồi thường thiệt hại dân sự theo Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015.
“Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”
Như vậy các khoản bồi thường có thể bao gồm: Chi phí khám chữa bệnh; Tiền thuốc men; Chi phí phục hồi sức khỏe; Thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút; Chi phí người chăm sóc; Khoản bù đắp tổn thất tinh thần.
Trong nhiều vụ án, số tiền bồi thường dân sự thực tế còn lớn hơn rất nhiều so với khoản phạt hành chính mà người vi phạm từng nghĩ mình chỉ phải chịu.
Nếu không may gây thương tích cho người khác, người thực hiện hành vi nên: Nhanh chóng đưa nạn nhân đi cấp cứu; Chủ động bồi thường thiệt hại; Thành khẩn khai báo; Hợp tác với cơ quan điều tra; Thu thập tài liệu chứng minh việc khắc phục hậu quả; Nhờ luật sư tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ngay từ giai đoạn đầu.
Việc xử lý đúng cách từ sớm có thể giúp giảm đáng kể hậu quả pháp lý phải đối mặt.
KẾT LUẬN CHUNG
Tỷ lệ thương tật 1% không phải là "lá chắn" để tránh trách nhiệm hình sự. Theo quy định của pháp luật, chỉ cần người gây thương tích sử dụng hung khí nguy hiểm, có tính chất côn đồ hoặc thuộc các trường hợp đặc biệt khác thì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Trường hợp của anh H cho thấy một thực tế rất đáng lưu ý: hậu quả pháp lý của hành vi bạo lực không được đánh giá chỉ bằng tỷ lệ thương tật mà còn phụ thuộc vào tính chất nguy hiểm của hành vi. Vì vậy, khi phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống, đặc biệt là các va chạm giao thông, mỗi người cần giữ bình tĩnh và lựa chọn phương thức giải quyết văn minh, đúng pháp luật thay vì sử dụng bạo lực rồi phải trả giá bằng một vụ án hình sự.
Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về những trường hợp người chồng bị giới hạn quyền đơn phương yêu cầu ly hôn. Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0965 921 058
Email: luattancang@gmail.com
Website: luattancang.com