VIỆT NAM CHÍNH THỨC GHI NHẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ƯỚC TÍNH

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ƯỚC TÍNH LÀ GÌ?
Thỏa thuận bồi thường thiệt hại ước tính được áp dụng tương đối phổ biến tại các quốc gia theo hệ thống thông luật trên thế giới và được ghi nhận tại các hiệp định thương mại quốc tế như Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế (PICC), Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (CISG). Trong đó, Điều 74 CISG quy định: “Tiền bồi thường thiệt hại xảy ra do một bên vi phạm hợp đồng là một khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng. Tiền bồi thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết”. Theo đó, Công ước Viên cho phép các bên trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế được dự liệu về những tổn thất mà họ có thể phải gánh chịu, cũng như ước tính về “khoản tiền bồi thường thiệt hại” có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, miễn là khoản tiền bồi thường thiệt hại không thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu.
Trong quá trình hội nhập thương mại quốc tế của Việt Nam, thỏa thuận “bồi thường thiệt hại ước tính” (liquidated damages) ngày càng xuất hiện nhiều ở các hợp đồng được ký kết giữa bên tham gia hợp đồng tại Việt Nam và các đối tác nước ngoài, nhằm xử lý các vi phạm hợp đồng và/hoặc để phân bố rủi ro theo ý định thương mại giữa các bên. Theo đó, các bên thỏa thuận một số tiền bồi thường mà một bên có thể nhận được đối với những thiệt hại xảy ra do hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia. Khi sự cố xảy ra, ví dụ chậm tiến độ, cơ chế này kích hoạt gần như tự động, không cần chứng minh thiệt hại thực tế nữa.
SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ƯỚC TÍNH VÀ CÁC CHẾ ĐỊNH KHÁC TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Pháp luật Việt Nam trước đây chỉ ghi nhận về bồi thường thiệt hại dựa trên thiệt hại thực tế và phạt vi phạm hợp đồng mà chưa từng ghi nhận về chế định bồi thường thiệt hại ước tính. Đến Luật Xây dựng số 135/2025/QH15, bồi thường thiệt hại ước tính lần đầu được ghi nhận chính thức tại khoản 2 Điều 86: “Việc bồi thường thiệt hại được xác định theo thiệt hại thực tế, các mức thiệt hại định trước tương ứng với các nghĩa vụ hợp đồng xây dựng bị vi phạm, mức độ vi phạm.” Vậy giữa những chế định này có gì khác biệt?
Giữa bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại ước tính có những điểm khác biệt cơ bản như sau:
| |
Bồi thường thiệt hại
|
Bồi thường thiệt hại ước tính
|
|
CSPL
|
Điều 13 Bộ luật Dân sự năm 2015
|
khoản 2 Điều 86 Luật Xây dựng năm 2015
|
|
Bản chất
|
Là nghĩa vụ bù đắp những tổn thất thực tế và trực tiếp phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra
|
Là sự thỏa thuận trước giữa các bên về một khoản tiền cố định hoặc công thức tính tiền bồi thường khi có hành vi vi phạm (như ấn định số tiền bồi thường/ngày chậm tiến độ).
|
|
Thời điểm xác định
|
Sau khi vi phạm xảy ra: Số tiền bồi thường chỉ được tính toán dựa trên hóa đơn, chứng từ tổn thất thực tế phát sinh.
|
Trước khi vi phạm xảy ra: Mức bồi thường được các bên dự liệu và thống nhất ngay tại thời điểm giao kết hợp đồng.
|
|
Nghĩa vụ chứng minh tổn thất
|
Bắt buộc: Bên bị vi phạm phải chứng minh hành vi vi phạm, thực tế tổn thất, mức độ tổn thất và mối quan hệ nhân quả
|
Miễn nghĩa vụ chứng minh tổn thất: Bên bị vi phạm chỉ cần chứng minh có hành vi vi phạm (ví dụ: trễ hạn bàn giao) là được hưởng khoản tiền thỏa thuận, không cần trình chứng từ thiệt hại.
|
|
Mức bồi thường
|
Số tiền bồi thường phải bằng đúng giá trị tổn thất thực tế và khoản lợi trực tiếp bị bỏ lỡ.
|
Khác biệt với thực tế: Bên vi phạm phải trả đủ số tiền đã thỏa thuận, bất kể thiệt hại thực tế phát sinh cao hơn hay thấp hơn con số ước tính đó.
|
Tuy nhiên, giữa bồi thường thiệt hại ước tính và phạt vi phạm lại có nhiều điểm tương đồng khiến cho nhiều người có thể nhầm lẫn về hai chế định này.
| |
Phạt vi phạm
|
Bồi thường thiệt hại ước tính
|
|
Bản chất
|
Mang bản chất trừng phạt, răn đe. Mục đích nhằm gây áp lực tài chính để buộc bên có nghĩa vụ phải tuân thủ đúng cam kết trong hợp đồng.
|
Là sự thỏa thuận trước giữa các bên về một khoản tiền cố định hoặc công thức tính tiền bồi thường khi có hành vi vi phạm (như ấn định số tiền bồi thường/ngày chậm tiến độ).
|
|
Thời điểm xác định
|
Trước khi vi phạm xảy ra: Dựa trên sự thỏa thuận tự do của các bên, không bắt buộc phải dựa trên tổn thất dự kiến hay thực tế.
|
Trước khi vi phạm xảy ra: Mức bồi thường được các bên dự liệu và thống nhất ngay tại thời điểm giao kết hợp đồng.
|
|
Mức trần
|
Bị khống chế mức trần theo luật định
|
Thường không bị giới hạn bởi mức trần cố định trong luật mà chỉ bị khống chế bởi mức trần do các bên tự thỏa thuận trong hợp đồng
|
|
Nghĩa vụ chứng minh tổn thất
|
Không cần chứng minh tổn thất
Phải chứng minh có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
|
Miễn nghĩa vụ chứng minh tổn thất: Bên bị vi phạm chỉ cần chứng minh có hành vi vi phạm (ví dụ: trễ hạn bàn giao) là được hưởng khoản tiền thỏa thuận, không cần trình chứng từ thiệt hại.
|
Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về chế định bồi thường thiệt hại ước tính. Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0965 921 058
Email: luattancang@gmail.com
Website: luattancang.com